Thứ Năm, 8 tháng 9, 2011

Lồn trâu bâu Dái ngựa.



Danchu: buzz! buzz!

Danvochu: Gìe thé!? Quen biết gì nhau không mà buzz bà thế? Buzz linh tinh lang tang bà chửi cho tan nát hoa chè, thè lè hoa cúc nở giờ. Bà đang phấn son buổi sáng để dạng háng cho buổi trưa… Đứa nào làm phiền bà thế?

Danchu: Thưa bà, tôi buzz cho bà từ tạp chí Dân chủ. Rất tình cờ tôi nhìn thấy nick bà sáng đèn nên muốn xin hỏi bà vài câu như một cách tham khảo ý kiến người dân. Bà có sẵn sàng không?

Danvochu: Thế cứ phông lông là buzz nhau thế hử! Tạp chí đéo giè mà chả lịch sự tẹo nào. Rồi, tham khảo gì thì cứ hỏi nhanh đê bà còn makeup nốt chứ bởi tại mày làm bà phân tâm đang chả biết nên chấm nốt ruồi vào đâu.

Danchu: Thưa bà, với tư cách là người dân, chắc bà biết một phiên tòa vừa diễn ra cách đây ít hôm tại Hà Nội phải không ạ?

Danvochu: Hỏi khó! Mấy hôm nay bà chỉ quan tâm đến cụ Rùa thôi nhưng giờ cụ ấy chả còn là đàn ông nữa nên bà chán rồi. Nên tạp chí Dân chủ cứ cho là bà chả biết nhá! Lại cướp giết hiếp rồi kéo nhau ra tòa chứ gì?

Danchu: Thưa không! Đó là phiên tòa xử tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ 7 năm tù giam vì tội tuyên truyền, chống phá chính quyền nhân dân. Chúng tôi muốn xin ý kiến của bà ra sao về phiên tòa này?

Danvochu: Thằng đấy rõ hâm, bà bảo là hâm chứ đéo phải ngông nhá! Tối ngày cứ kiện cáo vớ vẩn chứ tài cán giè, suốt ngày cứ như thằng Chí Phèo đi rạch mặt ăn vạ. Bà là bà chả ưa cái ngữ ấy! Bà là dân, bà chỉ thích yên ổn làm ăn thôi! Bà yêu đời, bà thích chim bồ câu trắng, nhậu rất chi là ngon.

Danchu: Nhưng thưa bà có người cho đó là phiên tòa trơ trẽn.

Danvochu: Bà xin lỗi mày nhá! Cả thế giới này chả thằng đéo nào làm chính trị mà không nham nhở, trơ trẽn cả. Làm điếm phải xinh, làm tình thì phải cởi cả quần cả áo, làm báo phải la cà còn làm chính trị gia thì phải trơ trẽn. Thằng phát biểu cái câu ấy cũng có mấy chục năm trơ trẽn đấy thôi! Chả nhẽ lúc còn quyền hành nó mù câm điếc đến lúc về hưu thì mới sáng mắt ra? Trơ trẽn cả bầy, chỉ bà mày là duyên dáng thôi con ạ! Hết duyên là đói đấy!

Danchu: Lại một nhà thơ bảo dù lý lẽ mà tiến sĩ họ Cù đưa ra là chưa hẳn đúng nhưng được ở cái…tinh thần. Mà tinh thần ấy theo chúng tôi là tiến sĩ đang hoạt động đấu tranh vì dân chủ.

Danvochu: Thế mày nhắn hộ lời bà đến nhà thơ đấy là nếu thích cái tinh thần ấy thì cứ tự nhiên mang về ngâm rượu mà uống. Mày chả nghe thiên hạ có câu ngu dốt cộng nhiệt tình ngang phá hoại hử. Chuyện nhớn bà mày cần đứa khôn chứ đéo cần đứa nhiệt tình.

Danchu: Nhưng, lại có tiến sĩ vừa bảo dân có quyền chỉ trích và đấu tranh lật đổ chính phủ.

Danvochu: Bà cũng là dân và bà cũng có quyền chửi thằng nào đòi lật đổ chính phủ là quân mất dạy…

Danchu: Bà bàng quang với thời cuộc chăng khi không thấy những gì mà những nhà cầm quyền là sai trái?

Danvochu: Bà thấy cả nhưng bà cũng chả tin các thằng khác làm tốt hơn nếu chả muốn nói chúng nó toàn bọn vớ vẩn, lôm côm và chuyên làm những chuyện ruồi bâu dương vật ngựa. Bà nói thê để nhỡ mày về làm báo cho thanh, chớ ghi cặc vào đấy đời chúng lên án bà tục tĩu con nhá! Ví dụ ba thằng giám thị vớ vẩn, trình độ cao lắm bằng cái rắm con chụp ảnh vì môi trường, chụp vài cái ảnh gian lận thi cử được cánh truyền thông phóng lên thành người hùng rồi giờ chỗ nào cũng thấy chỉa mồm vào nói oang oang như thánh sống. Ngữ ấy chỉ tổ mua vui cho bà.

Danchu: Tôi đồ bà là dân cộng sản nằm vùng?

Danvochu: Nói khác chắc gì chúng mày tin mà bà cũng chả việc đéo gì phải nói cho mày biết bà là ai. Chúng mày đồ về bà thế nào bà chả quan tâm. Cái bà quan tâm là xứ rồng lộn này có bốn nghìn năm thì mất ba nghìn tám năm làm nô lệ. Dân tộc này anh hùng thế là đủ, oai phong thế là thừa, thế giới chục tướng tài xứ này có hai lắm lúc ngẫm bà mày thẹn. Xứ thiên hạ tự hào vì máy bay, cao tốc, nhà chọc giời xứ này tự hào vì anh hùng đâu ra mà lắm thế. Vừa nứt mắt ra lại tiếp tục đòi đấu tranh. Sao chúng mày khoái đấu tranh thế? Chúng mày rững mỡ vừa thôi cho đời nó còn trong. Nói xấu hổ, chả biết chúng mày làm cách mệnh có thành công không nhưng bà trộm nghĩ nếu thành thì cũng vui vẻ phết. Ví như đấu tranh xong, thằng Trung Cuốc chúng khoe chúng vừa đi ỉa trên mặt trăng về thì chúng mày đang ngồi cặm cụi xây lại cái nhà xí nhưng vẻ mặt vẫn rất đỗi hân hoan, sung sướng vì xứ này một lần nữa được tiếng…anh hùng. Lồn é! Đến giờ rồi, bà đi dạng háng đây! Thế bà là ai chắc chúng mày biết rồi đấy nhỉ!@ made by Hà Cao, chuyên gia tiêu hủy phân ( aka trí thức lỗ đít )

Bản Tuyên ngôn nhất trí của mười ba Hợp bang Mỹ châu


Tại QUỐC HỘI, ngày 4 tháng Bảy năm 1776.

Bản Tuyên ngôn nhất trí của mười ba Hợp bang Mỹ châu
TRONG tiến trình phát triển của nhân loại, khi một dân tộc nào đó cần thiết phải xóa bỏ những mối liên kết chính trị giữa họ với một dân tộc khác và khẳng định trước các lực lượng trên toàn trái đất vị thế độc lập và bình đẳng mà các quy luật của tự nhiên và thượng đế đã ban cho họ, thì sự tôn trọng đầy đủ đối với các quan điểm của nhân loại đòi hỏi họ phải tuyên bố những nguyên do dẫn họ đến sự biệt lập đó.
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc—-Rằng để đảm bảo cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ. Thật vậy, sự thận trọng sẽ buộc người ta hiểu rõ rằng một chính quyền đã được thiết lập qua một thời gian dài thì không nên thay đổi chỉ vì những lý do đơn giản, nhất thời. Mọi kinh nghiệm đều đã chứng tỏ điều đó, rằng khi cái xấu còn trong chừng mực chịu đựng nổi, thì nhân loại dễ cam chịu nó, hơn là dám tự trao cho mình quyền loại bỏ những thể chế mà họ đã quen thuộc. Nhưng khi hàng loạt các hành vi lạm quyền và chiếm đoạt theo đuổi những mục tiêu giống nhau, lộ rõ ý đồ áp chế họ dưới ách chuyên quyền độc đoán, thì họ có quyền và có bổn phận phải lật đổ chính quyền đó và bổ nhiệm những chiến sĩ mới để bảo vệ nền an ninh của họ trong tương lai. Những thuộc địa này đã từng phải cắn răng chịu đựng, nhưng bây giờ đã đến lúc buộc họ phải xóa bỏ thể chế chính quyền cũ. Lịch sử của vua nước Anh hiện nay là lịch sử của những nỗi đau thương và sự tước đoạt triền miên, tất cả đều nhằm mục đích trực tiếp là thiết lập ách chuyên chế bạo ngược ở những bang này. Ðể chứng minh cho điều này, ta hãy để cho các sự việc tự nó lên tiếng với cả thế gian ngay thẳng.
Ông ta đã từ chối không phê chuẩn một số đạo luật, tốt đẹp và cần thiết nhất đối với lợi ích của công chúng.
Ông ta đã cấm đoán không cho các viên thống đốc thông qua những đạo luật mang tính cấp bách và bức xúc, hoặc đình chỉ việc thực thi những đạo luật này để chờ được ông phê chuẩn và trong khi đình chỉ như vậy, ông đã hoàn toàn bỏ mặc, không còn bận tâm về chúng nữa.
Ông ta đã từ chối không thông qua những đạo luật về cư trú của những vùng dân cư lớn, trừ phi đám dân này từ bỏ quyền đại diện trong cơ quan lập pháp, một quyền vô cùng quí giá đối với họ nhưng lại rất đáng sợ đối với những tên bạo chúa.
Ông ta đã triệu họp các cơ quan lập pháp ở những địa điểm không bình thường, không tiện nghi, cách xa những kho lưu giữ hồ sơ công cộng và chỉ nhằm mục đích duy nhất là làm cho họ do mệt mỏi mà phải tuân theo các chủ trương của ông ta.
Ông ta đã nhiều lần giải tán các hạ nghị viện vì đã cương quyết chống lại sự xâm phạm của ông đối với các quyền của nhân dân.
Rồi sau khi giải tán, một thời gian dài ông ta đã từ chối không cho bầu lại những cơ quan này, do đó những quyền lập pháp không gì xóa bỏ được đã được trao lại cho dân chúng thực thi. Cùng lúc đó, nhà nước đứng trước các nguy cơ về ngoại xâm và nội loạn.
Ông ta đã ra sức ngăn cản việc tăng dân số ở các bang này. Với mục đích đó, ông ngăn cản việc thực hiện luật nhập quốc tịch cho người nước ngoài, từ chối không thông qua những đạo luật khác khuyến khích nhập cư và tăng thêm các điều kiện đối với quyền sở hữu đất đai.
Ông ta đã ngăn cản việc thực thi công lý bằng cách từ chối không thông qua những đạo luật thiết lập các cơ quan tư pháp.
Ông ta đã buộc các quan tòa phải lệ thuộc vào ý chí của ông bằng những qui định về nhiệm kỳ cũng như các khoản lương bổng trả cho họ.
Ông ta đã lập ra rất nhiều cơ quan mới và bổ nhiệm vào đó vô số những quan lại mới để xách nhiễu dân chúng và vơ vét tài sản của họ.
Trong những thời kỳ hòa bình ông ta vẫn duy trì những đội quân thường trực trên đất nước ta mà không được sự đồng ý của các cơ quan lập pháp của chúng ta.
Ông ta đã tác động để cho ngành quân sự độc lập và vượt lên trên quyền lực dân sự.
Ông ta đã cùng với một số đối tượng khác buộc chúng ta phải tuân theo nền pháp quyền xa lạ với hiến pháp của chúng ta và không được luật pháp của chúng ta công nhận. Rồi ông ta phê chuẩn những đạo luật giả dối sau đây:
Cho phép những đội quân có võ trang đông đảo đồn trú trên đất nước ta:
Qua những phiên tòa giả hiệu, che chở cho chúng khỏi bị trừng phạt trước hậu quả của những vụ sát hại dân cư ở các bang này:
Cắt đứt những quan hệ thương mại giữa chúng ta với các khu vực khác trên thế giới:
Đặt các khoản thuế khóa mà không được chúng ta đồng ý:
Trong nhiều trường hợp, tước đoạt của chúng ta quyền được xét xử trước đoàn hội thẩm:
Đưa chúng ta sang phía bên kia đại dương để xét xử về các tội trạng không có thật:
Xóa bỏ thể chế tự do của luật pháp nước Anh ở một tỉnh lân cận và thiết lập ở đó một chính quyền độc đoán; rồi mở rộng ranh giới, coi đó là mẫu mực và công cụ thích hợp để du nhập ách cai trị chuyên chế vào các thuộc địa này:
Tước đoạt hiến chương của chúng ta, huỷ bỏ những bộ luật giá trị của chúng ta và thay đổi một cách căn bản những thể chế chính quyền của chúng ta:
Đình chỉ các cơ quan lập pháp của chúng ta rồi tự tuyên bố là có quyền lập pháp cho chúng ta trong mọi trường hợp.
Ông ta đã từ bỏ chính phủ ở đây và tuyên bố rằng chúng ta không còn được ông che chở và bảo vệ, rồi tiến hành cuộc chiến tranh chống lại chúng ta.
Ông ta đã vơ vét biển cả, tàn phá các bờ biển, thiêu đốt các thị trấn, huỷ hoại sinh mạng của nhân dân chúng ta.
Trong thời gian này, ông ta đang đưa sang những đội quân lớn gồm các lính đánh thuê nước ngoài để thực thi các công việc giết tróc, tàn phá và bạo ngược đã được bắt đầu với những cảnh tượng tàn ác và xảo trá mà ngay cả trong thời đại dã man nhất cũng khó mà sánh được, ông ta hoàn toàn không xứng đáng với người đứng đầu của một quốc gia văn minh.
Ông ta đã cưỡng ép các công dân của chúng ta bị bắt ngoài biển khơi phải cầm súng chống lại đất nước mình, trở thành những đao phủ giết hại bạn bè và anh em mình, hoặc buộc họ phải tự giết hại mình.
Ông ta đã kích động những cuộc phiến loạn trong nội bộ chúng ta và cố công đưa vào vùng dân cư ở các miền biên cương nước ta sự man rợ tàn bạo kiểu Indian mà các hình thức chiến trận khét tiếng của nó chính là sự huỷ diệt không phân biệt lứa tuổi, giới tính và điều kiện sinh sống.
Trong các giai đoạn xảy ra tình trạng áp bức như vậy, chúng ta đều có kiến nghị yêu cầu bồi thường với lời lẽ hết sức khiêm nhường, nhưng những kiến nghị lặp đi lặp lại của chúng ta chỉ được đáp lại bằng những nỗi đau xót liên tiếp. Một ông hoàng với tính cách được thể hiện qua các hành vi mà ta chỉ có thể gọi đúng tên là bạo chúa, thì không xứng đáng là người cai trị của một dân tộc tự do.
Không phải chúng ta không muốn lưu ý các bạn của chúng ta ở nước Anh. Ðã nhiều lần chúng ta cảnh báo họ về những ý đồ của các cơ quan lập pháp của họ muốn bành trướng quyền tài phán không thích hợp sang đất nước chúng ta. Chúng ta đã nhắc nhở họ về tình trạng nhập cư và cư trú của chúng ta ở nơi đây. Chúng ta đã dựa vào ý thức công bằng, lòng hào hiệp và cả những mối liên hệ ruột thịt giữa đôi bên để kêu gọi họ từ bỏ những cuộc chiếm đoạt đã gây cản trở cho mối quan hệ và giao tiếp giữa hai phía. Họ đã không thèm lắng nghe tiếng nói của chính nghĩa lẫn tình máu mủ. Vì vậy, chúng ta phải đi tới một kết luận tất yếu là tuyên bố cắt đứt quan hệ với họ và đối xử với họ giống như mọi người khác trong nhân loại: trong hoà bình là bè bạn, trong chiến tranh là kẻ thù.
Vì vậy, chúng ta, những đại biểu dự Ðại hội của HỢP CHÚNG QUỐC HOA KỲ yêu cầu các trọng tài tối cao của thế giới hãy công nhận những ý đồ chính đáng của chúng ta trong việc nhân danh và thực thi quyền lực của nhân dân có thiện chí ở các thuộc địa này, trịnh trọng công khai và tuyên bố rằng các thuộc địa liên minh với nhau này đã và có quyền phải là Quốc gia Tự do và Ðộc lập; rằng họ từ bỏ mọi sự trung thành đối với vương miện của Anh Quốc, rằng những liên hệ chính trị giữa họ với nước Anh đã và phải hoàn toàn bị xóa bỏ, rằng với tư cách là Quốc gia Tự do và Ðộc lập, họ hoàn toàn có quyền tiến hành chiến tranh, ký kết hiệp ước hòa bình, xây dựng liên minh, thiết lập quan hệ thương mại và thực thi mọi công việc thuộc quyền của những Quốc gia Ðộc lập.
Georgia
Button Gwinnett
Lyman Hall
Geo.Walton

North-Carolina
Wm. Hooper
Joseph Hewes
John Penn

South-Carolina
Edward Rutledge
Thos Heyward. Junr
Thomas Lynch . Junr
Arthur Middleton

Maryland
Samuel Chase
Wm. Paca
Thos Stone
Charles Carroll

Virginia
George Wythe
Richard Henry Lee
Ths. Jefferson
Benja. Harrison
Thos. Nelson, jr
Francis Lightfood Lee
Carter Braxton

Pennsylvania
Robt. Morris
Benjamin Rush
Benja Franklin
John Morton
Geo. Clymer
Jas. Smith
Geo Taylor
James Wilson
Geo. Ross

Delaware
Caesar Rodney
Geo. Read
New York
Wm. Floyd
Phil. Livingston
Frank. Lewis
Lewis Morris

New Jersey
Richd. Stockton
Jno. Witherspoon
Fras. Hopkinson
John Hart
Abra Clark

New Hampshire
Josiah Bartlett
Wm. Whipple
Matthew Thornton

Massachusetts Bay
Saml. Adams
John Adams
Robt. Treat Paine
Elbridge Gerry

Rhode-Island & Providence:
C. Step. Hopkins
William Ellery

Connecticut
Roger Sherman
Saml. Huntington
Wm. Williams
Oliver Wolcott

New York
Wm. Floyd
Phil. Livingston
Frans. Lewis
Lewis Morris

Take My Hand, Precious Lord


Tiếng Anh
Precious Lord, take my hand
Lead me on, let me stand
I am tired, I am weak, I am worn
Through the storm, through the night
Lead me on to the light
Take my hand precious Lord, lead me home
When my way grows drear
Precious Lord linger near
When my light is almost gone
Hear my cry, hear my call
Hold my hand lest I fall
Take my hand precious Lord, lead me home
When the darkness appears
And the night draws near
And the day is past and gone
At the river I stand
Guide my feet, hold my hand
Take my hand precious Lord, lead me home
Precious Lord, take my hand
Lead me on, let me stand
I'm tired, I'm weak, I'm lone
Through the storm, through the night
Lead me on to the light
Take my hand precious Lord, lead me home
Tiếng Việt
Hằng đợi mong, lòng chờ trông
Chúa dấu yêu nắm bàn tay
dẫn đưa về vùng bình yên, chốn yêu thương
Đời giông bão, kiếp lênh đênh
Xót xa mong mái nhà xưa
Chúa nhân từ cầm tay dẫn đưa tôi về
Đường còn xa, mà chồn chân
Gối mỏi mê, mắt mờ sương
quên đường về, gập ghềnh lê xác thân đau
Trong đêm tối, tiếng kêu thương
Khóc lẻ loi, mắt lệ sâu
Chúa nhân từ, Ngài luôn lắng nghe tôi cầu
Hồn sầu thương, lòng buồn đau
Bước ngả nghiêng, chân trượt mau
trên đường đời, mộng mị trong giấc cô miên
Ngồi trông ngóng tiếng thân quen
dấu yêu xưa, nhưng hoài công
Chúa nhân từ, Ngài luôn ở bên tôi hoài
Đời tà dương bạc đầu mau
Những đam mê qua vội qua
Mong bụi trần mờ mịt che bước chân run
Ngày tắt nắng, ánh thái dương
mải mê ru cho ngàn thu
Chúa nhân từ cầm tay dẫn đưa tôi về

Diễn văn Gettysburg

Tám mươi bảy năm trước, ông cha ta đã tạo dựng trên lục địa này một quốc gia mới, được thai nghén trong Tự do, được cung hiến cho niềm xác tín rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng.
Ngày nay, chúng ta đang tiến hành một cuộc nội chiến vĩ đại nhằm thử thách quốc gia này, hoặc bất kỳ quốc gia nào khác, xem có đủ quyết tâm theo đuổi lý tưởng mà đất nước ấy đã được thai nghén và cung hiến cho. Chúng ta gặp nhau ở đây, trên bãi chiến trường này. Chúng ta đến đây để cung hiến một phần của mảnh đất, nơi yên nghỉ cuối cùng của những người đã hiến dâng mạng sống mình để tổ quốc được sống. Đó là điều chúng ta cần phải làm.
Song, trong một ý nghĩa lớn lao hơn, chúng ta không thể cung hiến, cũng không thể thánh hóa mảnh đất này. Những con người dũng cảm, đang sống hay đã chết, là những người từng chiến đấu ở đây, đã cung hiến nó, họ đã làm điều mà những con người yếu đuối như chúng ta không thể làm gì thêm hơn nữa. Thế giới sẽ không quan tâm, cũng chẳng nhớ đến những gì chúng ta đang nói ở đây, nhưng thế giới sẽ không bao giờ quên những gì họ đã làm tại đây. Ấy là cho chúng ta, những người còn sống, cần cống hiến mình cho chính nghĩa vẫn chưa hoàn tất, mà những người từng chiến đấu ở đây đã cống hiến đời mình để sự thành công của chính nghĩa ấy mau đến. Ấy là cho chúng ta, những người đang hiện diện ở đây, tiếp nhận trọng trách đang đặt trước mặt chúng ta – chúng ta tiếp nhận từ những người đã khuất hiện đang được vinh danh lòng tận tuỵ với chính nghĩa mà họ đã cống hiến bằng chính sinh mạng mình – ngay tại đây, chúng ta quyết tâm không để họ chết vô ích – đất nước này, dưới sự quan phòng của Thiên Chúa, sẽ sản sinh một nền tự do mới – và chính quyền này của dân, do dân, vì dân sẽ không lụi tàn khỏi mặt đất.


Một bản dịch khác:

Tám mươi bảy năm trước, cha ông ta đã dựng nước trên mảnh đất này, bắt nguồn từ khao khát Tự Do, và dốc lòng trong niềm tin [rằng] mọi người sinh ra đều bình đẳng.
Hôm nay, chúng ta đang đánh một trận [nội] chiến vĩ đại, [một cuộc chiến] thử thách sức chịu đựng bền bỉ của quốc gia này, hay bất cứ quốc gia nào khác, được tạo ra từ ước muốn Tự Do và hết lòng vì Bình Đẳng cho mọi người. Chúng ta đã đối mặt trên bãi chiến trường này. Chúng ta giờ đây vinh dự dành riêng một phần [của] chiến trường làm nơi yên nghỉ cuối cùng cho những con dân đã hy sinh để tổ quốc được sinh tồn. Đó là điều hợp lẽ và đáng cần phải làm.
Nhưng, nếu hiểu theo nghĩa rộng lớn, [thì] chúng ta không thể có vinh dự này... chúng ta không thể tạo ra linh thiêng... cũng không thể làm rạng danh mảnh đất này. Chính những người dũng cảm, dù sống hay đã chết, chính những người đã chiến đấu nơi đây đã khiến mảnh đất này trở thành thiêng liêng, chứ chúng ta chẳng thể làm gì khác hơn được.
Người ta sẽ chẳng quan tâm, sẽ chẳng ghi nhớ hoài những điều chúng ta nói hôm nay, nhưng họ sẽ mãi mãi không bao giờ quên sự chiến đấu của những người đã nằm xuống nơi đây. Cái chính là chúng ta, những người còn đang sống, cần phải cố gắng kế tục sự nghiệp còn đang dang dở mà những người đã chiến đấu [và nằm xuống] ở đây đã vinh dự đi hết nửa chặng đường.
Chính là chúng ta, những người đang hiện diện nơi đây, cần phải tiếp nhận phần còn lại trọng trách trước mắt-
Vì những người đã ngã xuống này, chúng ta phải quyết tâm cao hơn nữa vì chính nghĩa mà họ đã chiến đấu đến nỗ lực cuối cùng-
Chính tại nơi đây, chúng ta quyết tâm để họ không chết vô nghĩa–
Đất nước này, dưới tay Thiên Chúa sẽ có một nền tự do mới-
Và một chính quyền của dân, do dân, vì dân sẽ không phải chết rục trên đất này.
Abraham Lincoln

Tôi có một giấc mơ - Martin Luther King, Jr.


Hôm nay, tôi sung sướng có mặt ở đây cùng các bạn trong sự kiện sẽ đi vào lịch sử chúng ta như là cuộc tuần hành vì tự do vĩ đại nhất.
Một trăm năm trước đây, một người Mỹ vĩ đại - hôm nay chúng ta đang đứng dưới bóng tượng đài của người - đã ký bản Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ. Văn kiện trọng đại này đã đến như ánh sáng của ngọn hải đăng dẫn soi niềm hi vọng của hàng triệu người da đen, những con người bị thiêu héo trong ngọn lửa của sự bất công. Nó đã đến như bình minh rộn rã để kết thúc đêm dài tăm tối của kiếp nô lệ.
Nhưng một trăm năm sau, người da đen vẫn chưa được tự do. Một trăm năm sau, cuộc sống của người da đen vẫn còn què quặt do gông cùm của lòng kỳ thị và xiềng xích của tinh thần phân biệt. Một trăm năm sau, người da đen vẫn sống trên hoang đảo của nghèo khó ngay giữa lòng đại dương bao la của phồn vinh vật chất. Một trăm năm sau, người da đen vẫn tàn úa trong những xó tối của xã hội Mỹ và nhận ra rằng họ chỉ là những kẻ bị lưu đày ngay trên quê hương mình. Hôm nay, chúng ta có mặt ở đây để phô bày sự ô nhục ấy.
Trong một ý nghĩa nào đó, ngày nay chúng ta gặp nhau tại thủ đô của đất nước để trả một món nợ. Khi những kiến trúc sư của nền cộng hòa viết lên những lời uy vĩ cho bản Hiến pháp và bản Tuyên ngôn Độc lập, họ đã công bố những cam kết mà chúng ta, mọi người Mỹ, là người được thừa hưởng. Lời hứa ấy nói rằng mọi người – vâng, người da đen cũng như người da trắng - cần được bảo đảm để hưởng những "quyền bất khả nhượng" là "quyền được sống, được hưởng tự do, và mưu cầu hạnh phúc"...
Nay là lúc để thực hiện lời hứa dân chủ. Nay là lúc để trỗi dậy từ thung lũng hoang tàn và tối tăm của lòng kỳ thị mà tiến tới con đường chói chang ánh mặt trời của công bằng chủng tộc. Nay là lúc để vực đất nước chúng ta khỏi vũng lầy của bất công chủng tộc mà lập nền trên vầng đá vững chãi của tình huynh đệ. Đã đến lúc biến sự công bằng thành hiện thực cho tất cả con dân của Thiên Chúa...
Hãy đến Mississippi, hãy đến Alabama, hãy đến South Carolina, hãy đến Georgia, hãy đến Louisiana, hãy đến những khu nhà ổ chuột, hãy đến những khu biệt cư tồi tàn ở phố phường phương bắc, để biết rằng chúng ta có thể và sẽ thay đổi chúng.
Tôi muốn nói với các bạn, bằng hữu của tôi. Chớ đắm mình trong thung lũng tuyệt vọng.
Và ngay cả khi phải đối đầu với vô vàn khó khăn hôm nay và ngày mai, tôi vẫn ấp ủ một giấc mơ. Ấy là một giấc mơ bắt nguồn từ giấc mơ Mỹ Quốc.
Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày khi đất nước này trỗi dậy để sống theo ý nghĩa thật của niềm xác tín của chính mình: "Chúng ta tin rằng chân lý này là đầy trọn, ấy là mọi người sinh ra đều bình đẳng".
Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày trên những ngọn đồi đất đỏ của Georgia, con của nô lệ và con của chủ nô sẽ ngồi lại với nhau bên bàn ăn của tình huynh đệ.
Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày vùng đất hoang mạc Mississippi, bức bối vì hơi nóng của bất công và áp bức, sẽ chuyển mình để trở nên ốc đảo của tự do và công bằng.
Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày bốn con nhỏ của tôi sẽ sống trong một đất nước mà chúng không còn bị đánh giá bởi màu da, mà bởi tính cách của chúng.
Hôm nay tôi có một giấc mơ...
Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày mọi thung lũng sẽ được nâng cao, mọi đồi núi sẽ bị hạ thấp, chỗ lồi lõm sẽ được ban bằng, chỗ quanh co sẽ thành ngay thẳng, và sự vinh hiển của Thiên Chúa sẽ hiển lộ để mọi loài xác thịt cùng nhau chiêm ngưỡng...
Nguyện tiếng chuông tự do vang lên từ những đỉnh đồi kỳ vĩ của New Hampshire. Nguyện tiếng chuông tự do vang lên từ những rặng núi uy nghi của New York. Nguyện tiếng chuông tự do vang lên từ các đỉnh núi Allegheny của Pennsylvania.
Nguyện tiếng chuông tự do vang lên từ đỉnh Rockies tuyết trắng của Colorado. Nguyện tiếng chuông tự do vang lên từ những sườn đồi của California...
Nguyện tiếng chuông tự do vang lên. Khi chúng vang lên, và khi chúng ta để chúng vang lên – khi chúng ta để chúng vang lên từ mọi ngôi làng, từ mọi thôn xóm, từ mọi tiểu bang và mọi thành phố, chúng ta có thể làm ngày ấy đến nhanh cho mọi con dân của Thiên Chúa - người da đen và người da trắng, người Do Thái và người ngoại bang, người Kháng Cách và người Công giáo - sẽ nắm tay nhau mà cùng hát ca từ này: "Cuối cùng đã có tự do! Cuối cùng đã có tự do! Tạ ơn Thiên Chúa Toàn năng, cuối cùng chúng ta đã được tự do!

Đừng hốt hoảng, đừng làm bất kỳ điều gì trong sự giận hoảng! Ai có vũ khí, xin hãy đem về, ai không có vũ khí, xin đừng thủ đắc chúng. Chúng ta không thể giải quyết vấn nạn này bằng những vụ bạo động trả đũa... Chúng ta phải yêu thương những người anh em da trắng bất kể họ đã làm gì đối với chúng ta. Chúng ta phải hành động để họ biết rằng chúng ta yêu họ. Giáo huấn của Chúa Giê-xu vẫn còn vang vọng đến hôm nay: "Hãy yêu kẻ thù mình, chúc phước cho kẻ rủa mình, và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình." Đó là điều chúng ta phải làm. Chúng ta phải lấy tình yêu mà đáp trả lòng thù hận -  Martin Luther King, Jr.

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

GIÁO SƯ NGUYỄN HUY QUÝ



 

Độc giả H.Hải cho biết:

Xin cung cấp các bác một tư liệu. Cuốn Lịch sử Trung Quốc, Nxb Giáo dục, 2006, tái bản 2007, 2008, 2009,... tác giả Nguyễn Gia Phu - Nguyễn Huy Quý. Phần cổ, trung và cận đại (chắc là ông Nguyễn Gia Phu viết) thì tạm được, phần hiện đại (viết đến thời điểm 2005) chắc là Nguyễn Huy Quý, Viện trưởng Viện TQ học, viết) ca ngợi hết lời Đảng CS Trung Quốc với những mỹ từ như "một đảng dày dạn kinh nghiệm đấu tranh cách mạng", "nền dân chủ XHCN, "kinh tế thị trường XHCN"... Ca ngợi cả đường lối đối ngoại "hòa bình" của TQ nữa! Sự kiện Thiên An Môn được coi là hành động chính đáng để trấn áp "bạo loạn phản cách mạng". Buồn cười là sự việc không được tường thuật, miêu tả chi hết, chỉ viết cụt lủn:

"Ngày 3-6 Bộ chỉ huy giới nghiêm ra thông báo khẩn cấp, lệnh cho các đơn vị kiên quyết chặn đứng bạo loạn. 4 giờ 30 phút rạng sáng 4-6-1989, các đơn vị bộ đội giới nghiêm, cảnh sát vũ trang từ các ngả đường đã tiến vào quảng trường Thiên An Môn. Cuộc trấn áp kết thúc vào lúc 5 giờ 30 sáng".


Đặc biệt, không có một dòng nào về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979, cũng như các cuộc đánh chiếm qđ Hoàng Sa năm 1974, hai đảo ở Trường Sa năm 1988.

Kết thúc cuốn sách này là 16 chữ vàng trong quan hệ Trung Việt: "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai"! 

Ghi chú về PGS. NGUYỄN HUY QUÝ 

I. Sơ lược lí lịch

  • Năm sinh: 1937
  • Nơi sinh: Hà Tĩnh
  • Chức danh: Phó Giáo sư
  • Thời gian công tác tại Trường: từ 1962 – 1994

II. Các công trình khoa học

Các bài báo khoa học
  1. Chính sách bóc lột kinh tế của Mĩ ở Đông Nam á. Thông báo Sử học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1962.
  2. Học tập thái độ của Mác đối với công xã Pari. Thông báo Sử học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1973.
  3. Mâu thuẫn Nhật – Mĩ quanh vấn đề Nhật chiếm Đông Dương. Thông báo Sử học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1975.
  4. Chủ nghĩa đế quốc Mĩ trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3, 1985.
  5. Nguồn gốc chiến tranh thế giới thứ 2. ý nghĩa thời đại của chiến thắng phát xít, Tạp chí Thông tin Lí luận, 1987.
  6. Lịch sử 70 năm qua sáng chói chân lí Cách mạng tháng Mười. Cách mạng tháng Mười, ngọn đuốc soi đường của thời đại, Tạp chí Thông tin Lí luận, 1987.
  7. ánh sang Cách mạng tháng Mười chiếu rọi con đường các dân tộc đi tới độc lập tự do và CNXH. Cách mạng tháng Mười và phong trào giải phóng dân tộc, Nxb Sự thật, 1987.
  8. Đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít – Một chặng đường cách mạng vẻ vang của Đảng Cộng sản Pháp. Tình đoàn kết chiến đấu vô sản Việt – Pháp, Tạp chí Thông tin Lí luận, 1986.
  9. Tìm hiểu khoa học quân sự Trung Quốc cổ đại. Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 1, 1993.
  10. Phép dụng binh Trung Quốc cổ đại. Nxb Quân đội Nhân dân, 1993.
  11. Vũ kinh thất thủ. Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 2, 1993.
  12. Giai đoạn mới trong quá trình cải cách kinh tế Trung Quốc. Trung Quốc – thành tựu và triển vọng, Nxb Khoa học Xã hội,. 1994.
  13. Vì một nền Trung Quốc học Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc – Một số vấn đề kinh tế – văn hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, 1994.
  14. Trung Quốc điều chỉnh chính sách đối nội, đối ngoại. Sự điều chỉnh chính sách của các nước Châu á – Thái Bình Dương, Kỉ yếu Hội nghị khoa học, 1993.
  15. Kinh tế Trung Quốc – hiện trạng và triển vọng. Tạp chíNghiên cứu Trung Quốc, số 1, 1995.
  16. Kinh nghiệm Đài Loan trong công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế. Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 1, 1995.
  17. Chính sách phát triển và mở cửa Trung Quốc đối với khu vực Đại Tây Nam. Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc, số 2, 1995.
  18. Trung Quốc – dự kiến kế hoạch 5 năm lần thứ 9 và mục tiêu đến năm 2010. Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 4, 1995.
  19. Những chân lí lịch sử không thể phủ nhận. Tạp chí Cộng sản, số 5, 1995.
Các giáo trình, chuyên khảo, sách tham khảo
  1. Cách mạng XHCN tháng Mười vĩ đại. Nxb Sự thật, 1982.
  2. Lịch sử hiện đại thế giới (1917-1945). Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1984.
  3. Lịch sử chiến tranh thế giới thứ hai. Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1985.
  4. Lịch sử Liên Xô. Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1987.
  5. Ngày tận số của con thú phát xít. Nxb Sự thật, 1991.
  6. Kì tích kinh tế Đài Loan. Nxb Chính trị Quốc gia, 1995.

Xem thêm: Nguyễn Huy Quý - lộ mặt...

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011


Hạnh phúc: Khi ở ao làng đang đói, nhìn sang nhà hàng xóm thấy họ có cơm độn, mình ước gì được một bữa cơm như vậy có chết cũng bằng lòng; Khi đã có cơm độn, lên tới trung tâm xã, thấy nhà người ăn toàn cơm trắng, mình ước được ăn bữa cơm trắng; Khi có bữa cơm trắng, lên tới thị trấn, thấy nhà nhà ăn ngon, mặc đẹp và mình lại ao ước.. cứ thế, cứ thế cuộc đời ta mãi mãi đi tìm hạnh phúc khi cứ nhìn thấy nhà người khác có cuộc sống không giống cuộc sống của  mình mà cuộc sống đó để mình mơ ước có cuộc sống tương tự để rồi mình phải học cách làm thế nào để đạt được cuộc sống mà mình thấy, hằng mơ ước. Cuộc đời là không thể chỉ dừng lại ở sự tự mãn với chính mình.
Theo tôi di sản lớn nhất của Hồ Chủ Tịch để lại chính là niềm khát khao để dân tộc mình được giải phóng khỏi sự xâm lược của ngoại bang, dân mình có cơm no, áo ấm (điều này không chỉ mình cụ Hồ mà có nhiều nhà chí sĩ cách mạng khác) nhưng chính tư duy “học người Pháp để đánh lại quân Pháp”; “học người Mỹ để đánh lại quân Mỹ” đồng thời kết hợp với một học thuyết lý tưởng đã đem lại thành công vang dội.
GS Nguyễn Thiện Nhân đã phát hiện ra học thuyết trường lợi nhuận trong kinh doanh đại khái: Khởi nghiệp -> phát triển -> trưởng thành -> suy thoái. Tới giai đoạn thoái trào mà không có lớp kế cận phát huy tiếp thì sự suy thoái diễn ra vô cùng nhanh chóng. Thiết nghĩ cuộc đời con người cũng vậy.
Giai đoạn cụ Hồ đang ở giai đoạn đầu của bên kia sườn dốc, khả năng không còn minh mẫn nữa, khi mà chưa có được truyền nhân xứng đáng thì đã manh nha sự phân hóa những nhóm quyền lực riêng rồi.
Kết thúc chiến tranh, cụ không những không có truyền nhân kế thừa để tiếp tục phát huy tư duy thành công của cụ mà các nhà lãnh đạo trong giai đoạn này lại đóng cửa với thế giới, tự mãn với chiến thắng trong cuộc chiến. Chỉ chạy từ nhà qua nhà hàng xóm, cùng lắm là thị trấn chứ khi thành phố chìa tay ra đón đâu dám lên tới thành phố đâu mà biết cuộc sống của phố thị như thế nào? Tư duy thì độc đoán nên cứ luẩn quẩn mãi mà không có lối thoát. Cũng may trong lúc khốn khó cũng đã ngộ ra được một chút chân lý nhưng còn quá e dè vì sợ hãi chính năng lực của mình. Âu cũng là “cái số”. 
người ta không thể thay hướng gió thổi, nhưng người ta có thể tự điều chỉnh mình, tránh ngược chiều gió. Đỡ mất sức

Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2011

Cuộc gặp lại đầy ấn tượng



- Xin giới thiệu với bạn đọc bài viết của Nhà sử học Dương Trung Quốc về cuộc gặp gỡ giữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp với ông McNamara, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ.

Dương Trung Quốc
“Tôi là quân nhân, tôi nói thẳng”
Nói về chiến tranh ở Việt Nam, người Mỹ hay nói đến giới hạn của sự dính líu là từ năm1961 đến 1969, Đại tướng cho rằng, như thế là chưa đủ vì từ năm 1950 Mỹ đã can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương, đến Điện Biên Phủ, 80% chiến phí là của Mỹ. Thực chất sự dính líu của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam dưới hình thức và mức độ khác nhau phải là một phần tư thế kỷ, từ năm1950 đến 1975. Bị chi phối bởi một thứ “thần học” (théolôgie như cách nói của McNamara) là học thuyết “domino”, Mỹ cho Việt Nam là một vị trí quan trọng liên quan đến an toàn của mình, cho nên Kenedy coi Việt Nam là trọng điểm để tiêu diệt phong trào giải phóng dân tộc và đến Johnson thì phát động chiến tranh ra miền Bắc và đổ quân vào miền Nam.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Trở lại vụ Vịnh Bắc Bộ (từ ngày 2 đến 5/8/1964) và trận Pleiku (6/2/1965), khi phía Mỹ đặt câu hỏi ai ra lệnh và khi ra lệnh có nghĩ đến phản ứng của Mỹ ra sao? Đại tướng nói rằng việc này ông đã nói trong cuộc gặp mặt lần trước, nhưng vấn đề đơn giản là “lúc bấy giờ bộ đội Việt Nam ở miền Nam cũng như Hải quân ở miền Bắc được lệnh lúc nào quân địch xâm phạm, tiến vào lãnh thổ thì phải đánh, tôi là một quân nhân, nếu các ngài đồng ý, tôi nói thẳng rằng: “Chính sách (mở rộng chiến tranh của Mỹ) quyết định rồi nhưng phải tìm một cái cớ đưa ra Quốc hội!”. Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ là sai lầm lớn nhất, về chiến lược và cũng là thảm bại đầu tiên và lớn nhất của lịch sử nước Mỹ”.
Ông McNamara bật dậy ngắt lời: “Xin lỗi Đại tướng, ngài nói không đúng”.
Đại tướng bình thản nói: “Ngài đánh chúng tôi trước khi có trận Pleiku, vả lại trận này cũng như trận đánh tàu Maddox chỉ là hoạt động địa phương. Còn phản ứng của chúng đối với việc mở rộng chiến tranh phá hoại là chuyển cả miền Bắc vào tình trạng chiến tranh để bảo vệ miền Bắc và đánh thắng chiến tranh không quân của Mỹ, làm trọn nhiệm vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn”.
“Từ lo sợ không có trong tư duy quân sự Việt Nam
Phía Mỹ đưa ra câu hỏi: “Những hành động quân sự nào của Mỹ làm tướng Giáp lo sợ nhất và vào những thời điểm nào?”.
Đại tướng cười và vui vẻ nói: “Chúng tôi trả lời là từ “lo sợ” không có trong tư duy quân sự của chúng tôi, bởi vì với chúng tôi, không có gì quý hơn độc lập tự do, chúng tôi quyết đánh Mỹ và chúng tôi luôn tin tưởng là sẽ thắng”.
Phía Mỹ đưa ra câu hỏi: “Nhìn lại quá khứ, tướng Giáp đánh giá thế nào về thành công và thất bại của Tổng tiến công Mậu Thân?”.
Đại tướng nói rằng: “Sức mạnh của Mỹ tuy lớn nhưng có những hạn chế cơ bản. Ví như kỵ binh bay mạnh ở chỗ cơ động nhưng đối với chúng tôi thì cơ động nhất là lực lượng tại chỗ, quân Mỹ đến đâu thì đã có lực lượng của chúng tôi ở chỗ đó”.
“Còn về Tổng tiến công Mậu Thân, mục đích chúng tôi là làm sao cho Mỹ rút. Về cách đánh mà nói thì đợt một là thắng lợi lớn, những đợt sau nếu theo ý kiến của Trung ương chuyển nhanh về nông thôn thì thắng to, nên vì vậy có tổn thất. Chiến tranh nhìn chung là chiến lược tổng hợp. Mục tiêu của chúng tôi là Mỹ phải chấm dứt leo thang, ngồi lại đàm phán. Như thế chúng tôi đã đạt được buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris. Chỉ có điều chúng tôi không dự kiến đầy đủ là Nixon lật lọng sẽ ký rồi lại ném bom B52… Nhưng cuối cùng chúng tôi vẫn bảo vệ được nền độc lập và thống nhất Tổ quốc của một nước nhỏ, dù kinh tế còn lạc hậu nhưng đã đánh thắng hai đế quốc to. Đó là thắng lợi của ai? Của nhân dân Việt Nam đồng thời cũng là của các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có những người Mỹ chống lại chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam”.
“Các ngài nên đọc Nguyễn Trãi”
Phía Mỹ nhận rằng, Mỹ không thắng được ở Việt Nam là do Mỹ không hiểu Việt Nam và bỏ qua nhiều cơ hội để chấm dứt sự dính líu vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng, về phía Việt Nam thì sao, có cơ hội nào bị bỏ lỡ không?
Câu trả lời của Đại tướng là: “Chúng tôi không bỏ qua một cơ hội nào”. Ông McNamara ngắt lời: “Cái đó còn phải bàn lại…”.
Đại tướng đáp: “Mỹ xâm lược Việt Nam là sai lầm. Mỹ không hiểu Việt Nam. Chúng tôi là một dân tộc có tinh thần bất khuất hàng ngàn năm chống giặc ngoại xâm, nhưng rất mong muốn hòa bình. Thế kỷ XV, sau khi đánh thắng quân Minh đã từng có những lời tuyên ngôn trong các áng văn bất hủ “Bình Ngô đại cáo” và “Phú Chí Linh” của Nguyễn Trãi:
Đem lại thái bình muôn thuở
Tắt muôn đời chiến tranh”.
Các ngài nên đọc những sách đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước và phát triển học thuyết quân sự độc đáo Việt Nam, động viên chiến tranh toàn dân, do dân, vì dân nên đánh thắng”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nghiên cứu bản đồ tác chiến năm 1967
“Nước nhỏ có vai trò nước nhỏ”
Về quan hệ giữa Việt Nam và các nước lớn trong chiến tranh, Đại tướng nhắc lại nhiều lần: “Nước lớn có vai trò nước lớn, nhưng tôi muốn nhắc với ngài rằng: Nước nhỏ cũng có vai trò nước nhỏ. Danh dự, sức mạnh độc lập tự do, sức mạnh văn hóa của một nước không thể đo bằng cây số vuông. Trong quá khứ, Liên Xô và Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam nhiều trong chiến tranh nhưng Mỹ đã sai lầm khi tìm giải pháp quyết định cho cuộc chiến tranh này ở những cuộc thương lượng với những nước lớn đó.
Ngày nay, muốn xây dựng một trật tự thế giới mới thì các dân tộc phải bình đẳng và tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau. G7, G8 bàn với nhau, được, nhưng nếu không tính đến các nước nhỏ thì không bao giờ thế giới có hòa bình và ổn định phát triển”.
Kết thúc câu trả lời cho những câu hỏi về phía Mỹ đặt ra, Đại tướng nói:
“Tôi mong rằng đó là những điểm tôi suy nghĩ đã lâu, bây giờ nói rất ngắn sẽ giúp cho việc xây dựng quan hệ Việt Nam và Mỹ. Do vị trí địa lý chính trị và vai trò Việt Nam gắn liền với văn hóa và lịch sử của nó, quan hệ Việt – Mỹ sẽ góp phần vào sự ổn định khu vực và thế giới. Tôi nhất trí với ngài McNamara là không có nước nào có thể áp đặt được ý định của mình cho các dân tộc khác, nhất là với Việt Nam, phải tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi trên nguyên tắc bình đẳng.
Sự bình thường hóa quan hệ giữa hai nước đã mở ra những cơ hội để chúng ta đẩy nhanh sự phát triển những quan hệ hòa bình trong hợp tác và cùng có lợi trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền của nhau vì lợi ích của nhân dân hai nước và sự ổn định phát triển của thế giới”.
“Vị tướng tôi đánh giá cao nhất là Tướng Nhân Dân”
Sau câu hỏi của tướng Smith bằng cách nào Việt Nam đối phó được với những vũ khí hiện đại của Mỹ, một câu hỏi được mọi người chú ý được đặt ra: Vị tướng nào trong chiến tranh được tướng Giáp đánh giá cao nhất?
Đại tướng trả lời: “Quân đội Nhân dân Việt Nam ở cả miền Bắc và miền Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là một quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng có tinh thần quyết chiến rất cao, thông minh và sáng tạo. Còn vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình. Tôi hoàn thành nhiệm vụ cũng như những người lính hoàn thành nhiệm vụ. Trên bình diện nhiệm vụ thì tôi cũng như người lính là bình đẳng, cho nên tôi rất tôn trọng người lính.
Còn các ngài muốn hỏi tôi rằng, tướng ngụy nào tôi để ý đến nhất thì có lẽ sự đánh giá ấy nên hỏi Bộ Tư lệnh Quân đội Mỹ”.
“Hôm nay, ngài lại thắng lợi về thời gian”
Người phát biểu cuối cùng của cuộc gặp mặt là ông Chester Cooper, vị tướng thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia thời chiến tranh của Mỹ chân thành nói: “Thưa Ngài, tôi thán phục Ngài từ 20 năm về trước, nay tôi cũng vẫn thán phục Ngài và chắc các bạn tôi ở đây cũng vậy. Chúng tôi sang đây với một tinh thần suy tư cởi mở và sẵn sàng muốn tìm hiểu dân tộc Việt Nam. Chúng tôi học hỏi được rất nhiều. Bài thuyết trình của Ngài cũng nhắn nhủ chúng tôi rất nhiều điều”.
Đại tướng bình luận: “Các ngài chưa hiểu hết đâu”.
Ông Cooper: “Chính vì vậy chúng tôi sẽ tiếp tục cuộc tìm hiểu này và hy vọng lần sau chúng tôi sẽ trình bày để Ngài hiểu hơn về nước Mỹ chúng tôi. Chúng tôi sẽ nhớ mãi ngày hôm nay”.
Lúc chia tay, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt tay ông McNamara: “Bắt tay một con người dũng cảm và có thiện chí”.
Cuộc gặp mặt kết thúc mà không thực hiện được một dự kiến tất cả sẽ chụp một bức ảnh chung bởi vì dự tính cuộc gặp mặt chỉ diễn ra dưới 1 tiếng đồng hồ thì đã kéo dài thêm gần 30 phút. Ông McNamara và tướng Smith vội vã về khách sạn để ra sân bay kịp giờ về nước.
Trong suốt cuộc gặp mặt, cựu Bộ trưởng McNamara không trình bày nhiều nhưng luôn tỏ ra sốt ruột về thời gian, thỉnh thoảng ông lại ngắt lời Đại tướng với câu xin lỗi lịch sự nhưng không giấu được sự sốt ruột vì muốn giành thêm thời gian để các thành viên của mình trình bày quan điểm. Nhưng thản nhiên và cũng lịch sự, Đại tướng chủ động giành phần lớn thời gian để phát biểu quan điểm của mình. Không giữ được kiên nhẫn, ông McNamara thốt lên: “Thế là ngài lại thắng về thời gian rồi”. Đại tướng lập luận: “Các ngài thua vì chưa hiểu, muốn hiểu nên lắng nghe”.
Sau cuộc gặp mặt, tôi gặp Stein Tonnesson, nhà sử học người Na Uy, thành viên duy nhất không có quốc tịch Mỹ của đoàn Mỹ, là tác giả của nhiều tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam. S.Tonnesson bình luận về cuộc gặp mặt giữa hai cựu Bộ trưởng Quốc phòng: “Lần này, tướng Giáp lại thắng trong một trận chiến về ngôn từ” (une guerre des mots).
Tạp chí Xưa và Nay, số 21 (11/1995)
D.T.Q